Các chính sách kinh tế của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe còn gọi là Abenomics được triển khai từ đầu năm 2013, bao gồm một tập hợp các cải cách tiền tệ, tài chính, cơ cấu kinh tế, hướng tới thúc đẩy lạm phát và đưa Nhật Bản thoát khỏi suy thoái giảm phát kéo dài nhiều thập kỷ qua.
Mục tiêu tổng thể là thúc đẩy tăng trưởng GDP hàng năm và tăng tỷ lệ lạm phát lên 2% thông qua chi tiêu ngắn hạn kích thích kinh tế, nới lỏng tiền tệ, cải cách để thúc đẩy thị trường lao động trong nước và tăng cường quan hệ đối tác thương mại.

Diễn biến lạm phát trong năm 2016
Quá trình thực thi chiến lược Abenomics thời gian qua đã đem lại một số kết quả tích cực cho nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt khá thành công với 2 mũi tên đầu tiên là bơm tiền vào thị trường thông qua kích thích hệ thống tài chính và tạo việc làm thông qua chính sách nới lỏng của NHTW Nhật.
Chính sách trọng tăng trưởng trong Abenomics, đặc biệt là chương trình mua lại trái phiếu của BoJ đã làm tốc độ tăng trưởng GDP lấy lại mức tăng trưởng dương tại nhiều thời điểm trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt vào năm 2013 khi vừa thực thi chiến lược.
Xuất khẩu và niềm tin của giới đầu tư, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng có phần được cải thiện. Việc tăng cung tiền nhằm phá giá đồng Yên cũng đã có một số tác động đến tình hình xuất khẩu trong phần lớn thời gian vừa qua, giúp tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Nhật Bản trên thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường châu Âu và Mỹ.
Lý thuyết Keynes cũng đã đúng với việc Nhật Bản gia tăng đầu tư công vào cơ sở hạ tầng nhằm giải quyết việc làm. Sắp tới đây Chính phủ Nhật Bản cũng có ý định giải ngân thêm 61 tỷ USD đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào cơ sở hạ tầng nhằm thu hút gấp đôi lượng khách du lịch hiện nay, đầu tư vào tàu điện từ, các tàu cảng, sân bãi phục vụ Olympic 2020…
Các chính sách của chính phủ cũng đã phần nào thu hút được thêm một số lượng lao động nữ vào bộ máy kinh tế, giúp giảm đáng kể tình trạng thất nghiệp, duy trì tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản hiện nay ở mức khoảng 3%, thấp hơn nhiều các nền kinh tế phát triển khác.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách Abenomics vẫn còn rất nhiều vấn đề cần đặt ra.
Vấn đề đặt ra đầu tiên đó là hiệu quả của chính sách tiền tệ mở rộng. Mặc dù BoJ đã kiên trì mở rộng cung tiền trong thời gian qua tuy nhiên tình trạng suy giảm kinh tế và giảm phát vẫn chưa được giải quyết triệt để. Tính đến hết năm 2016, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản qua 3 quý của năm đã rơi vào tình trạng giảm sút liên tục khi chỉ lần lượt đạt mức tăng 0,7%; 0,5% và 0,3%.
Như vậy, GDP của Nhật Bản trong năm 2016 đang có xu thế giảm trong bối cảnh sức mua của người dân yếu và thâm hụt cán cân thương mại gia tăng. Vì thế tình trạng lạm phát dương cũng không duy trì được ổn định khi trong năm 2016 vừa qua vẫn có 6 tháng rơi vào tình trạng giảm phát. Số liệu này khiến nỗ lực chống giảm phát của ông Abe đang đứng trước nhiều thách thức.
Về phía cán cân thương mại, những hiệu ứng từ việc duy trì đồng Yên yếu để hỗ trợ xuất khẩu đã không còn được duy trì trong năm 2016. Những biến động của thị trường tài chính toàn cầu khiến nhu cầu với các tài sản an toàn như đồng Yên gia tăng, khiến xuất khẩu quay trở lại gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm đáng kể và ở trạng thái thấp hơn nhiều nước phát triển nhưng kèm theo đó là tình trạng công việc không ổn định gia tăng, mức lương thấp, cũng góp phần khiến nhu cầu tiêu dùng giảm.
Một vấn đề cũng đang đặt ra đối với kinh tế Nhật Bản qua quá trình thực hiện chính sách Abenomics là bài toán nợ công vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng. Hiện nay, tổng nợ công của Nhật Bản đã tăng lên mức 230% GDP, tương đương với tài sản thực của toàn bộ hộ gia đình của đất nước và tính theo mức thuế hiện nay thì bằng tổng số thu từ thuế của 8 năm.
Cho tới nay, 90% mức nợ công của Nhật Bản vẫn bằng đồng Yên. Điều này buộc chính phủ Nhật Bản trong thời gian tới phải thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
Cuối cùng, một tồn tại trong chính sách của ông Abe đó là việc chậm trễ trong việc triển khai các chính sách cải cách tăng trưởng sâu rộng về mặt cấu trúc nền kinh tế. Trong chiến lược tăng trưởng kinh tế mà chính quyền Abe đề ra hiện nay đã đề cập đến những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển lâu dài nhưng không có những biện pháp triển khai cụ thể.
Ví dụ như trong vòng 10 năm tới mục tiêu đặt ra là cố gắng tăng thu nhập bình quân đầu người lên thêm 1.500.000 Yên (tương đương 15.000 USD), tuy nhiên chính phủ Nhật vẫn chưa đưa ra kế hoạch công việc cụ thể cần phải làm để đạt được mục tiêu đó.
Gần đây nhất, Thủ tướng Nhật Bản đã phải đưa ra cam kết sẽ tiếp tục tăng cường theo đuổi chiến lược tăng trưởng thông qua việc thúc đẩy chương trình cải cách, cam kết sẽ có thêm nhiều phụ nữ gia nhập lực lượng lao động, bãi bỏ quy định không hợp lý trong ngành công nghiệp, tự do hóa khu vực nông nghiệp và chuẩn bị để thích ứng với Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Theo Thái Hồng, thoibaonganhang.vn






























